Thứ Bảy, 10 tháng 5, 2008

Thứ Sáu, 9 tháng 5, 2008

110 NGAY XƯA HOÀNG THỊ- VIDEO







New Page 5








109 BAN HỢP CA THĂNG LONG







New Page 5









108 LỜI NGƯỜI RA ĐI - KHÁNH LY







New Page 5









107TRUNG TÂM THÁO GỠ VŨ KHÍ NGUYÊN TỬ

TRUNG TÂM THÁO GỠ VŨ KHÍ NGUYÊN TỬ
tka23
Tại phía đông Aymario, bang Texas, Mỹ có một công trình kiến trúc đồ sộ mang tên “Tòa nhà 104” với chi phí xây dựng 30 triệu USD, được lực lượng quân cảnh vũ trang mạnh tuần tra bảo vệ suốt ngày đêm. Đây chính là Trung tâm Tháo gỡ vũ khí hạt nhân tuyệt mật trực thuộc Bộ Năng lượng Mỹ. Nhân viên kỹ thuật làm việc tại trung tâm này đông tới 3.000 người.


B-61
Vũ khí hạt nhân được vận chuyển tới đây bằng xe tải chuyên dụng với sự hộ tống nghiêm ngặt của quân đội và được cất giấu trong những gian kho chứa tạm. Tuy gọi là gian kho “tạm” nhưng được xây dựng vững chắc bằng loại bêtông cốt thép cao cấp, trên đỉnh nóc kho được đổ lớp cát dày 1m. Trung tâm có tổng số 60 gian nhà kho như vậy, trong đó 44 gian chứa tạm trước khi đem đi tháo gỡ, 16 gian kho còn lại dùng để chứa phần “chi'nh” của vũ khí hạt nhân đã tháo ra - lõi plutonium.

Vũ khí hạt nhân đưa ra khỏi gian kho tạm được lần lượt đưa tới các “ụ” khác nhau để kiểm tra, tháo gỡ. Gọi là “ụ” nhưng không gian bên trong là một nhà xưởng rất rộng, cấu trúc cực kỳ kiên cố, tường bao quanh dày tới 5m, ở giữa còn kẹp một lớp ximăng dày 0,7m; mặt nền nhà xưởng cũng được xử lý đặc biệt, có dạng như bọt biển (sponge), nhằm để phòng nổ thuốc nổ hóa học chứa trong vũ khí hạt nhân; mỗi cánh cửa ra vào của nhà xưởng nặng tới 500kg.

Mỗi vũ khí hạt nhân trước khi chính thức tháo gỡ phải qua bước kiểm tra bằng X-quang. Đầu đạn được đặt trên một mâm xoay, nhân viên kỹ thuật bật mở một máy chụp X-quang công suất lớn, để kiểm tra kết cấu của đầu đạn và tìm các dấu vết rạn nứt.

Sau khi kiểm tra X-quang, đầu đạn được đưa tới “ụ tháo gỡ”. Những công nhân tay nghề cao sẽ bắt tay “mổ xẻ” nó. Ví dụ bom hạt nhân B-61 của Không quân Mỹ bị tháo rời thành 4 bộ phận: phần đầu, phần giữa chứa nguyên liệu phóng xạ, phần sau chứa thuốc nổ hóa học và phần đuôi móc dù. Có những loại vũ khí hạt nhân thời gian tháo dỡ kéo dài tới 3 tuần lễ, nhưng với bom B-61 chỉ khoảng 1 ngày là xong.

Sau khi tháo rời, phần đầu bom được vận chuyển tới một nhà máy khác của Bộ Năng lượng (cũng nằm trong khuôn viên trung tâm), bộ phận chứa nguyên liệu phóng xạ và thuốc nổ hóa học được đưa tới một “ụ” để xử lý chuyên môn, phần đuôi và các phần khác được thu hồi sử dụng lại hoặc phá hủy ép thành khối.

Phần bên trong của B-61 là chất phân rã hạt nhân. Bộ phận hình cầu này gồm 2 lớp trong và ngoài. Lớp trong là lõi Pu (plutonium), lớp ngoài chứa thuốc nổ hóa học; 2 lớp nguyên liệu nổ này bình thường ngăn cách với nhau. Khi sử dụng, kíp nổ kích nổ lớp thuốc nổ hóa học nồng độ cao, năng lượng lớn, chính nhờ năng lượng này đã kích hoạt lõi Pu bên trong xảy ra phản ứng hạt nhân.

Việc tháo dỡ phần lõi phân rã này được la`m trong một căn hầm nửa chìm nửa nổi. Trên nóc hầm có đổ một lớp cát sỏi rất dày, tường hầm cũng được thiết kế rất vững chắc. Chẳng may xảy ra nổ thuốc nổ hóa học gây nên hiện tượng khuếch tán Pu, phần nắp hầm sẽ lập tức đổ sập xuống vùi lấp chất phóng xạ. Trong hầm ngầm sẽ “cắt rời” cách ly giữa thuốc nổ hóa học với lõi Pu, và phần thuốc nổ được dẫn ra ngoài đốt cháy.

Phần lõi Pu là “trái tim” của vũ khí hạt nhân, tuy chỉ nhỏ bằng một viên bi chì nhưng nặng hơn viên bi chì, năng lượng nó giải phóng ra đủ để san phẳng cả một thành phố lớn. Có một số loại bom hạt nhân, như bom B-61 chẳng hạn, là loại vũ khí hạt nhân bậc 2, tức ngoài lõi Pu phân rã ra, còn có hộp kín kết hợp hạt nhân, phản ứng hạt nhân, phân rã hạt nhân Pu ở lõi trong sẽ kích hoạt phản ứng kết hợp hạt nhân U (uranium) chứa trong hộp kín, từ đó sinh ra khối năng lượng lớn hơn nhiều. Loại thiết bị nhiệt hạch bậc 2 này được đưa tới xử lý tại một nhà máy đặc biệt tại bang Tennessee.

Sau khi tách rời thuốc nổ, lõi Pu kê bằng giá kim loại và bảo quản trong một hộp chì (Pb) bịt kín; cuối cùng, nó được lưu giữ trong một căn phòng hình tròn. Hiện nay, năng lực tháo dỡ đầu đạn hạt nhân hàng năm của trung tâm này là 2.000 quả.

Hiện phía Mỹ đang tìm cách mở rộng nhà máy, tăng về lượng tàng trữ lõi Pu, nhưng sự tàng trữ này chỉ mang tính tạm thời, với thời gian lưu giữ chỉ trong khoảng từ 6 đến 10 năm, còn sau đó chúng được đem đi đâu và xử lý ra sao? Có người kiến nghị dùng hoa` tie^?h đẩy phóng chúng lên vũ trụ, cũng có người kiến nghị cho chúng nổ ngầm trong lòng đất nhưng xem ra cả hai cách đều không an toàn.

Ngay cả Lầu Năm Góc và Bộ Năng lượng Mỹ cũng không mấy mặn mà với công việc tiêu hủy triệt để những lõi Pu này, và dư luận báo chí Mỹ cảnh báo rằng, đang có những thế lực muốn bảo quản những lõi Pu này để dễ dàng “tái sử dụng” khi cần tới




Bùi Hữu Cường (Theo Macau Daily

106 MẬT GẤU NHẬN DẠNG

Cách nhận biết mật gấu thật hay giả
tka23
Cách nhận biết mật gấu thật .

Y học cổ truyền gọi vị thuốc này là hùng đởm. Nhiều người bệnh dùng nó có tác dụng tốt; nhưng cũng không ít người phàn nàn là bị phản ứng lở ngứa phải đi cấp cứu.
Túi mật gấu
Có thể họ dùng không đúng người, đúng bệnh, cũng có thể họ mua phải mật gấu giả.


Ở Việt Nam có 3 loại gấu:
Gấu heo có miệng giống miệng lợn;
Gấu chó thân hình nhỏ, tai ngắn, ngực có khoang chữ V màu ngà;
Gấu ngựa lớn hơn gấu chó, có khoang chữ V trắng.
Theo y học cổ truyền, mật gấu ngựa là tốt nhất, tiếp đến là mật gấu lợn, gấu chó.
Có rất nhiều cách thử để nhận biết mật gấu thật hay giả.

Thứ nhất, bạn hãy quan sát túi mật, khi cắt ra giữa đám đen có hạt lổn nhổn màu vàng óng đặc trưng. Nếm thấy vị đắng, sau có cảm giác mát, ngọt, dính lưỡi. Nếu ngậm lâu sẽ tan hết. Nếu là mật giả sẽ không dính lưỡi, không mát, không bóng, có mùi tanh khó ngửi.

Cách thử thứ 2 là dùng lửa đốt, mật gấu thật sẽ không cháy.
Cách thứ 3 là lấy 1 hạt trong túi mật thả vào cốc nước trong, sẽ thấy các sợi vàng thõng xuống đáy cốc, có khi hạt mật còn quay tròn.
Cũng có thể nhỏ 1 giọt mật vào máu, máu sẽ tan và không đông. Hoặc hòa mật gấu trong nước cất, cho thêm một ít đường kính, sau đó nhỏ 1-2 giọt axit sunfuric, bạn sẽ được một dung dịch màu đỏ rất đặc trưng nếu là mật thật.
Mật gấu công dụng


Mật gấu vị đắng hơi ngọt, tính lạnh, có tác dụng: phá ứ hồi sinh (trong trường hợp ngã bất tỉnh); chữa đau nhức do huyết ứ, chữa co giật, vàng da. Liều dùng từ 0,5 g đến 2 g, hòa nước uống hoặc cho vào cháo để ăn. Y học cổ truyền thường dùng mật gấu để xoa bóp và làm thuốc chữa đau mắt.


Mật gấu dễ bị sâu, mốc nên khi bảo quản nên tránh ẩm, nóng, cất trong hộp kín có chất hút ẩm.
ĐỜI SỐNG

105 KỲ NAM VÀ TRẦM HƯƠNG

Kỳ nam và Trầm hương
tka23-
Kỳ Nam và Trầm hương là sản phẩm đặc biệt nằm trong lõi của cây Gió. Ở Campuchia, cây Gió có tên là Can Krasna (Can, cannada: Trầm, Krasna: sẫm). Có lẽ từ âm ấy mà có tên khoa học bằng tiếng La tinh.


Cây Gió (Ảnh: gpo.or.th)
Tên khoa học : Aquilaria Crassna Pierre
Họ: Thymeleaceae
Bộ: Thyméales
Lớp: Song-tử-diệp
Ngành: Hiển hoa (bí tử)
Cây Gió là một loài đại mộc có thể cao 40-50 mét, vỏ màu xám có nhiều sợi có thể làm giấy được, gỗ mềm màu trắng. Lá không lông có 15-18 cặp gân. Trái là nang dài 4cm.

Trầm hương và Kỳ nam
Không phải bất kỳ thân cây Gió nào cũng có Trầm hương và Kỳ nam. Chỉ một số cây Gió có bệnh mới chứa Trầm ở phần lõi của thân. ở phần này, nếu quan sát kỹ qua độ phóng đại của kính lúp, ta thấy các tế bào gỗ thoái hóa, biến dạng, mất mộc tố, chứa một chất nhựa thơm (tinh dầu), biến thành những khối hình thể không đều, lồi lõm, có rãnh dọc, trong trong, màu sậm; đó là

Kỳ nam (Bois d'aloès). Chung quanh Kỳ nam gỗ cũng biến chất ít nhiều, đó là Tóc (do chữ Camphuchia là Tok); khi đốt cháy Tóc tỏa ra mùi thơm, thường dùng để làm nhang nên gọi là




Trầm hương (Bois d'aigle).
Trầm và Kỳ nam đều ở lõi cây Gió do tích tụ nhiều hay ít tinh dầu, cho nên nếu không sành sỏi dễ bị nhầm lẫn khi mua. Muốn phân biệt hai thứ ấy ta phải xem kỹ tính chất và khí vị của chúng:
Gỗ Kỳ nam nặng và nhuyễn, có đủ vị cay, chua, đắng, ngọt, thơm tho. Nó tích chứa nhiều tinh dầu nên khi cháy cho ngọn màu xanh, khói lên thẳng và cao, bay lờ lững trong không khí rất lâu.
Gỗ Trầm hương nhẹ hơn, có vị cay, hơi đắng, mùi thơm nhẹ nhàng. Khi đốt cháy Trầm hương bốc khói lên hình vòng rồi tan biến nhanh trong không khí.


Muốn phân biệt Kỳ nam tốt xấu thì người ta quan sát loại nào có sớ nhuyễn mịn, có nhiều tinh dầu là tốt, còn loại nào rắn chắc và ít dầu là xấu. Người ta thường gói Kỳ nam trong lá chuối thật kín rồi đem phơi nắng, đến tối đem vào nếu có nhiều chất dầu chảy ra là tốt.
Muốn giữ Kỳ nam được tốt và lâu thì nên bọc vào giấy thiếc hoặc bỏ vào hộp có nắp đậy kín để tinh dầu khỏi bay hơi hoặc chảy bớt.
Một số người thường lấy gỗ cây Sơn già (Exoecaria agallocha, Linné, thuộc họ Euphorbiaceae) để bán giả Trầm hương.
Ở cây Sơn già nặng và rất cứng, có màu nâu đỏ, có chấm đen hoặc xám, vị đắng, có mùi thơm dễ chịu, nên một số người Ấn Độ hoặc Trung Quốc vẫn thường đốt để xông hương trong nhà cho thơm. Theo Petelot thì đó là một sự sai lầm vì trong gỗ Agallocha có chứa một chất nhựa có tính độc làm hại đến sức khỏe của con người.


Lá & hoa cây Gió (Ảnh: gpo.or.th)
Theo kinh nghiệm của những người "đi điệu" (tìm trầm) cho hay, khi nào gặp những cây Gió cao 30-40 mét trở lên, lá đã vàng và nhỏ dần dần, thân cây có nhiều u bướu như những tổ kến hoặc gốc có gò mối đóng thì cây Gió đó có Kỳ nam.
Khi gặp cây Gió như vậy họ phải hạ cây, đào tận rễ để tìm, vì Kỳ nam có thể nằm trên ngọn, ở thân hoặc ở rễ.
Khi gặp những cây Gió còn non thì người ta thường dùng dao đâm vào thân cây thành những vết thương và theo dõi nhiều năm sau để lấy Trầm - Kỳ.

Người ta cho rằng khi bị thương, cây sẽ tích tụ nhựa đến đây để băng bó xem như là khả năng tự đề kháng để chống bệnh nên tạo ra Trầm - Kỳ.
Theo nhận xét của những người "đi điệu" lão thành thì dạo này đi rừng dễ gặp Trầm kỳ hơn trước kia, có lẽ trong thời gian chiến tranh những mảnh bom đạn đã ghim vào thân cây Gió nên kích thích tạo ra Trầm - Kỳ. Cũng có thể vì vậy mà sau NĂM 75
có nhiều người đi rừng gặp Trầm và Kỳ nam.
Năm 1977, Julaluodin đã tìm thấy trong vùng Tóc của cây Gió có chứa một loại nấm Cryptosphaeria mangifera. Ông đã thử nghiệm bằng cách cấy những nấm ấy vào thân những cây Gió lành mạnh. Sau một thời gian thì vùng nhiễm khuẩn trở nên sậm màu và biến thành Tóc rõ rệt vì khi đốt tỏa ra mùi trầm.
Phải chăng khi bị thương tích hoặc khi bị nhiễm bệnh ở một vùng nào đó, cây tích tụ nhựa đến để tự băng bó hoặc để tự đề kháng nên đã tạo thành Trầm hương và Kỳ nam.
Những cây Gió mọc trong rừng rậm trùng trùng điệp điệp xen lẫn với những loại cây điệp loại khác nên rất khó tìm kiếm, mà một khi kiếm được cây Gió cũng chắc gì đã có Trầm và Kỳ nam, thành thử nhiều người "đi điệu" phải luồn rừng từ tháng này sang tháng khác để tìm kiếm.
Ngoài lương thực tươi mang đi bỏ đầy "ruột tượng" để mang theo người, ăn cầm chừng cho đỡ đói trong lúc đi rừng dài ngày. Có nhiều khi hết lương thực, lúc đi lạc trong rừng, người "đi điệu" phải ngậm củ Ngải (Galanga cyrcuma), một loại riềng dại, có vị thơm dịu làm cho ruột đỡ cồn cào trong lúc tìm đường về.
Vì cuộc hành trình dài ngày và đầy gian lao vất vả nên người "ăn trầm" khi trở về thường hốc hác, râu tóc xồm xoàm, áo quần rách bươm chẳng khác gì dã nhân nên nhiều người đã tưởng tượng ra cảnh "ngậm ngải tìm trầm lâu ngày biến thành người rừng".
Việc ngậm ngải cũng không phải để làm cho dã thú tránh xa như một vài người lầm tưởng, vì những người "đi điệu" thường mang theo roi mây hoặc roi dâu, thỉnh thoảng quất vào không khí thành những tiếng xé kêu "trót, trót", chính những âm thanh ấy làm cho cọp beo tránh xa cũng như tiếng roi da của người dạy thú trong gánh xiếc làm cho voi cọp phải gườm.



Quả cây Gió
(Ảnh: gpo.or.th)
Không phải ai "đi điệu" cũng kiếm được Trầm, có người kiếm được có người không, nên giới "ăn trầm" thường tin dị đoan rằng những kẻ lương thiện mới được Thiên Y Ana (hóa thân của cây Trầm, Kỳ nam) cho gặp.
Vì vậy trước khi đi rừng tìm kiếm, kẻ "đi điệu" phải xem ngày lành tháng tốt để xuất hành, trước đó phải ăn chay 3 ngày, tránh chung đụng với đàn bà, trong khi đi rừng không được có ý nghĩ ám muội, không được nói chuyện cà rỡn, không gây gổ nhau...
Đến khi gặp được cây trầm thì người đó phải nhịn đói để giữ mình tinh khiết, tìm đến suối gần đó để tắm rửa cho sạch sẽ, rồi lập đàn thờ cúng vái tạ ơn thần Rừng trước khi hạ cây Gió để tìm lõi Trầm kỳ.
Công dụng của Trầm hương và Kỳ nam
Trầm hương và Kỳ nam của ta rất có giá trị trên thị trường quốc tế, nhất là đối với Trung Quốc. Đài Loan, Hồng Kông, Nhật Bản. Đó là những hương liệu quý giá trong việc điều chế các loại nước hoa hảo hạng như Santal, Nuit d'Orient..., một số xà phòng tắm và nhất là nhang trầm.
Sở dĩ Trầm và Kỳ nam có giá trị cao là vì có công dụng chữa bệnh rất tốt trong Đông y:
- Trừ sơn lam chướng khí: Người ta thường xông trầm trong nhà để trừ khí độc và thường mang Kỳ nam trong người để ngừa sơn lam chướng khí. ở một vài vùng, nhất là vùng Phú Khánh, người ta thường bọc Kỳ nam trong túi vải thưa để đeo ở cổ xem như "bùa hộ mệnh". Trẻ em dưới 1 tuổi đeo 2 chỉ, 1 đến 5 tuổi đeo 3 chỉ, người lớn đeo 5 chỉ.
- Dùng làm thuốc giải nhiệt và trừ sốt rét: ở Campuchia, theo các bác sĩ Menaut và Phana Douk, người ta thường dùng Kỳ nam, Trầm và ngà voi mài với nước lạnh để uống. Ngày 2-3 lần, mỗi lần uống từ 3 phân tới 1 chỉ.
- Thuốc trừ đau bụng: Theo bác sĩ Sallet ghi nhận thì thuốc Nam có toa thuốc trị đau bụng rất hay gồm: Trầm hương 2 chỉ, sắc cùng Đậu khấu, hạt cau, vỏ cây Mộc lan, Sa nhơn, Can khương... trong 2 chén rưỡi nước còn lại 9 phân chia uống thành 2 lần trong ngày sẽ làm cho bụng hết quặn đau.
- Chữa bệnh đường tiểu tiện: Người ta thường mang Trầm kỳ ở vùng hội âm để chữa bệnh đường tiểu tiện.
- Theo Đông y, Kỳ nam dùng để trị các chứng độc thủy do phong thổ gây nên, làm tiêu chứng chướng mãn, no hơi, đau bụng, ói mửa, hen suyễn thở gấp, hạ được nghịch khí, thông chứng bế do khí hư gây nên. Mài từ 3 phân tới 1 chỉ, tùy theo tuổi lớn nhỏ hòa với nước lạnh hoặc bỏ vào nước đun sôi mà uống.
- Chống chỉ định:
+ Trầm kỳ là thuốc trụy thai, nên đàn bà có thai không nên uống hoặc mang trong mình, có thể làm sảy thai.
+ Những người suy nhược và biếng ăn, suy gan... không nên dùng Trầm - Kỳ.
- Tương khắc trầm kỳ có tính kỵ hỏa, thành thử không nên uống chung Trầm - Kỳ với những loại thuốc có tính chất thuộc hành hỏa tính theo âm dương ngũ hành.
khoa hoc

104 BLOG PHUSI

BLOG- TÔN THẤT PHÚ SĨ

103 MÚA BỤNG - BELLY DANCE







New Page 5








102 BÀI THƠ NHỚ MẸ- PPS

BÀI THƠ NHỚ MẸ

101 KHI QUẢ ĐẤT KHÔ CẰN PPS

KHI QHẢ ĐẤT KHÔ CẰN

100 TƯỢNG VỆ NỮ Ở MILO

Tượng Vệ Nữ
Venus de Milo
tka23




Tượng thần Vệ Nữ thành Milo (tiếng Pháp: Venus de Milo) là một bức tượng Hy Lạp cổ đại và là một tác phẩm điêu khắc Hy Lạp cổ đại nổi tiếng nhất, khắc hoạ Aphrodite (người La Mã gọi là Venus; tiếng Việt là "Vệ nữ"), vị nữ thần tình yêu và sắc đẹp của người Hy Lạp.
Tượng được điêu khắc trên chất liệu cẩm thạch, hơi lớn hơn người thật với chiều cao 203 cm (80 inches), nhưng đã mất hai tay và bệ nguyên bản. Theo một đoạn văn khắc trên cái bệ ngày nay đã mất, mọi người cho rằng đây là tác phẩm của Alexandros xứ Antioch; trước kia tượng từng bị nhầm là tác phẩm của nhà điêu khắc Praxiteles.


Giải thích
Tượng có niên đại khoảng năm 130 TCN. Dù niên đại này khá muộn, nó tổng hợp các phong cách điêu khắc cổ điển Hy Lạp. Hiện vẫn chưa biết chính xác bức tượng này, theo nguyên bản, thể hiện khía cạnh nào của thần Vệ nữ.
Thông thường mọi người cho rằng tượng khắc hoạ Venus Victrix đang giữ một quả táo vàng do Paris thành Troy đưa (xem thêm Sự phán xử của Paris). Đây cũng có thể là nguồn gốc cách đặt tên kiểu chơi chữ hòn đảo Milos, có nghĩa là "quả táo" trong tiếng Hy Lạp.
Một mảnh của cắnh tay với quả táo đã được tìm thấy gần bức tượng và được cho là cánh tay nguyên bản của tượng. Sau khi bức tượng được tìm thấy, nhiều người đã tìm cách khôi phục dáng bộ nguyên thuỷ, dù vậy vẫn chưa mang lại thành công. (Một bản vẽ của Adolf Furtwängler về đề xuất dáng vẻ nguyên thủy của bức tượng có trong một bài viết của Kousser[1].)
Khám phá và tiếng đồn


TRƯỚC NẶT SAU LƯNG

Nơi Tượng thần vệ nữ Milo được khám phá trên đảo Milos, Hy Lạp
Bức tượng được được một người nông dân tên là Yorgos Kentrotas tìm thấy trong tình trạng rời làm hai mảnh năm 1820 trên đảo Milos, cũng được gọi là Melos hay Milo, ở Aegae. Ông giấu bức tượng nhưng sau này các quan chức người Thổ Nhĩ Kỳ đã tìm ra và tịch thu. Một sĩ quan hải quân Pháp, Jules Dumont d'Urville phát hiện vẻ đẹp của tượng và dàn xếp vụ mua bán cùng Đại sứ Pháp tại Thổ Nhĩ Kỳ, Marquis de Riviere.



Sau khi phục chế, bức tượng được mang giới thiệu cho vua Louis XVIII năm 1821. Cuối cùng nhà vua cho đặt tượng tại bảo tàng Louvre ở Paris, nơi bức tượng vẫn được trưng bày đến ngày nay.
Sự nổi tiếng của bức tượng trong thế kỷ 19 không đơn thuần vì vẻ đẹp của nó mà còn vì những nỗ lực quảng bá mạnh của chính quyền Pháp. Năm 1815 Pháp trả lại bức tượng Medici Venus cho Ý sau khi bức tượng bị Napoléon Bonaparte cướp đoạt đem về nước.
Tượng thần Vệ nữ được coi là một trong những tác phẩm điêu khắc cổ điển đẹp nhất còn tồn tại khiến người Pháp càng bỏ công quảng cáo bức tượng Vệ nữ Milo là tuyệt tác hơn so với bức tượng họ vừa mất trước đó. Tượng được các nghệ sĩ và các nhà phê bình ca ngợi, họ coi đó là biểu tượng của vẻ đẹp duyên dáng của phụ nữ;

Tuy nhiên, Pierre-Auguste Renoir rõ ràng không theo trào lưu chung khi cho rằng nó giống như một "tên sen đầm" (gendarme).

TƯỢNG THẦN VỆ NỮ VENUS DE MILO

99 PHÁO ĐÀI BAY B-2




XIN THEO DÕI

PHÁO ĐÀI BAY TÀNG HÌNH B2
1. GIỚI THIỆU PHÁO ĐÀI BAY 52


PHÁO ĐÀI BAY B2
tka23


B-2 Spirit, do Northrop Grumman sản xuất, là một máy bay tàng hình đa chức năng có thể ném bom thông thường và bom hạt nhân. Chiếc máy bay ném bom này là một mốc quan trọng trong chương trình hiện đại hóa máy bay ném bom của Hoa Kỳ. B-2 là loại máy bay đắt nhất từng được sản xuất: ước tính chi phí cho mỗi chiếc từ khoảng 1.157 tỷ tới 2.2 tỷ đôla Mỹ.
Kỹ thuật tàng hình của nó được áp dụng nhằm giúp máy bay có thể thâm nhập qua các hàng rào phòng ngự trước kia là không thể vượt qua đối với những máy bay chiến đấu thông thường.
Số lượng đặt hàng dự tính 135 chiếc ban đầu đã được giảm xuống còn 75 vào cuối thập niên 1980. Trong Thông điệp liên bang năm 1992, Tổng thống George H.W. Bush đã thông báo tổng số chiếc B-2 chế tạo sẽ chỉ hạn chế ở con số 20 (sau này đã tăng lên 21 nhờ việc tân trang lại một chiếc thử nghiệm).


Tính năng

Chiếc B-2 vừa hoàn thành nạp nhiên liệu trên không trên Thái Bình Dương. Việc tái nạp nhiên liệu trên không cho phép B-2 có tầm hoạt động chỉ bị giới hạn bởi việc bảo trì và sức khỏe phi hành đoàn.

Cùng với loại Pháo đài bay B-52 và


B-1 Lancer, quân đội Mỹ cho rằng B-2 mang lại sự linh hoạt vốn có của những máy bay ném bom có người lái. Khả năng bị nhận dạng thấp, hay các tính năng "tàng hình," cho phép nó thâm nhập qua những hàng rào bảo vệ tinh vi nhất của kẻ thù và tấn công các mục tiêu được bảo vệ kỹ càng nhất.
Sự pha trộn giữa kỹ thuật tàng hình và hình dáng khí động học cũng như khả năng chất tải lớn mang lại cho B-2 những ưu thế to lớn so với các loại máy bay ném bom trước đó.
Tầm hoạt động của nó đạt xấp xỉ 6,000 hải lý mà không cần tái nạp nhiên liệu, tính năng tàng hình khiến cho B-2 có khả năng hoạt động tự do hơn ở những độ cao lớn, nhờ thế tăng tầm hoạt động và có vùng quan sát tốt hơn cho các cảm biến gắn trên nó.
Với Hệ thống hỗ trợ mục tiêu GPS (GATS) cùng với những quả bom hỗ trợ GPS như Vũ khí tấn công điều khiển chung (JDAM), nó có thể sử dụng radar APQ-181 để sửa các lỗi GPS về các mục tiêu và có độ chính xác cao hơn các loại vũ khí điều khiển laser với những quả bom trọng lực "câm" và một hệ thống hỗ trợ dẫn đường GPS "thông minh" gắn ở đuôi. Nó có thể ném bom 16 mục tiêu một lúc.
Khả năng tàng hình của B-2 có được nhờ sự phối hợp giữa việc giảm thiểu hồng ngoại, âm thanh, điện từ, quang học và radar, khiến đối phương rất khó phát hiện, theo dõi và tiêu diệt. Nhiều đặc tính tàng hình vẫn được xếp vào hàng tối mật; tuy nhiên các vật liệu composite chế tạo B-2, đặc biệt và các lớp phủ và thiết kế kiểu cánh bay cũng góp phần tăng khả năng tàng hình của nó.
B-2 có tổ lái hai người; một phi công ngồi bên trái và một chỉ huy ở bên phải, so với đội bay bốn người của B-1B và năm người của B-52.
Lịch sử hoạt động
B-2 bắt đầu xuất hiện với tư cách một dự án mật được gọi là Máy bay ném bom thâm nhập tầm cao (HAPB), sau này đổi thành Máy bay ném bom kỹ thuật hiện đại (ATB) và từ khóa của dự án là Senior Cejay. Sau này nó được đổi thành B-2 Spirit.

Ước tính 23 tỷ dollar đã được chi tiêu bí mật cho việc nghiên cứu và phát triển B-2 trong thập niên 1980. Một khoản chi phụ thêm do việc thay đổi vai trò của nó năm 1985 từ máy bay ném bom tầm cao thành máy bay ném bom tầm thấp, khiến phải thiết kế lại hầu như toàn bộ máy bay.
Vì việc phát triển chiếc B-2 là một trong những chương trình bí mật nhất của Quân đội Hoa Kỳ, công chúng không hề biết để chỉ trích về chi phí quá đắt đỏ cho việc phát triển nó.
Chiếc B-2 đầu tiên được trưng bày trước công chúng ngày 22 tháng 11, 1988, khi nó lăn bánh ra khỏi nhà chứa tại Air Force Plant 42, Palmdale, California, nơi sản xuất. Chuyến bay đầu tiên của nó diễn ra ngày 17 tháng 7, 1989. Cơ quan thử nghiệm B-2, Trung tâm thử nghiệm bay không quân, Căn cứ không quân Edwards, California, chịu trách nhiệm thử nghiệm bay, kỹ thuật, chế tạo và phát triển loại máy bay này.
Chiếc đầu tiên, được đặt tên Spirit of Missouri, được chuyển giao ngày 17 tháng 12, 1993. Trách nhiệm bảo trì B-2 thuộc nhà thầu hỗ trợ của Không lực Hoa Kỳ và do Trung tâm tiếp liệu không quân thành phố Oklahoma tại Căn cứ không quân Tinker ở Oklahoma quản lý.

B-2 đang bay
Nhà thầu hàng đầu, chịu trách nhiệm thiết kế tổng thể và phối hợp là Northrop Grumman Integrated Systems Sector. Boeing Integrated Defense Systems, Hughes Aircraft (hiện là Raytheon), General Electric Aircraft Engines và Vought Aircraft Industries, đều là các thành viên của đội nhà thầu. Một nhà thầu khác, chịu trách nhiệm về các thiết bị huấn luyện phi công (hệ thống huấn luyện vũ khí và huấn luyện nhiệm vụ) là Link Simulation & Training, một nhánh của L-3 Communications trước kia là Hughes Training Inc. (HTI).[3] Link Division, trước kia là CAE - Link Flight Simulation Corp. Link Simulation & Training chịu trách nhiệm phát triển và phối hợp tất cả đội bay và các chương trình huấn luyện bảo trì.
Các nhà thầu quân sự của chiếc B-2 đã lao vào một chiến dịch lobby mạnh mẽ để giành được sự ủng hộ tài chính từ phía Nghị viện.
Căn cứ không quân Whiteman tại Missouri là căn cứ hoạt động duy nhất của B-2 cho tới tận đầu năm 2003, khi các cơ sở kỹ thuật cần thiết cho B-2 được xây dựng tại căn cứ quân sự chung Hoa Kỳ/Anh Quốc trên đảo Diego Garcia thuộc Anh tại Ấn Độ Dương, sau đó là tại Guam năm 2005. Các cơ sở kỹ thuật cho loại máy bay này cũng đã được xây dựng tại RAF Fairford ở Gloucestershire tại Anh Quốc.
Vẫn còn những nghi ngờ về giá thành ngày càng tăng của chương trình: một số người đã cho rằng chi phí khổng lồ đó có thể bao gồm cả chi phí cho các chương trình bí mật khác. Con số chi tiêu cũng có thể được giải thích một phần bởi số lượng nhỏ máy bay được chế tạo cộng với chi phí nghiên cứu cao cho chương trình B-2.[4]
Các máy bay ném bom này ban đầu được thiết kế để ném bom hạt nhân thời Chiến tranh lạnh và hộ trợ cho chúng khi chi tiêu quốc phòng giảm bớt. Tháng 5, 1995, trong một cuộc điều tra do Nghị viện tiến hành, Viện Phân tích Quốc phòng kết luận rằng, sau khi Liên bang Xô viết tan rã, nhu cầu cho loại B-2 không còn nữa.
Chiến đấu
Chiếc B-2 bị nhiều người chế giễu là quá đắt để có thểm đem ra tham chiến. Tuy nhiên, chiếc máy bay này đã tham gia vào ba chiến dịch khác nhau.
Nó bắt đầu tham chiến trong Chiến tranh Kosovo năm 1999. Chiếc B-2 là máy bay đầu tiên sử dụng Vũ khí tân công điều khiển chung (JDAM) trong chiến tranh. Từ đó, chiếc máy bay này đã hoạt động tại Afghanistan trong Chiến dịch Tự do Vĩnh viễn và tại Iraq trong Chiến dịch Tự do Iraq.
Sau khi ném bom các mục tiêu tại Afghanistan, chiếc máy bay hạ cánh tại Diego Garcia, tái nạp nhiên liệu và thay thế đội bay cho lần xuất kích tiếp theo. Trong chiến dịch tại Iraq nó còn phải bay xa hơn bởi B-2 đóng tại căn cứ Diego Garcia.
Những phi vụ sau này ở Iraq diễn ra từ Căn cứ không quân Whiteman ở Missouri. Điều này khiến nhiều phi vụ kéo dài hơn 30 giờ và một phi vụ đã kéo dài hơn 50 giờ. Chiếc B-2 có tính năng tự động cao, không như những máy bay chiến đấu một người lái, một thành viên đội bay có thể ngủ, sử dụng toilet hay chuẩn bị bữa ăn nóng trong khi người kia điều khiển máy bay.
Bản báo cáo Hàng năm của Cơ quan kiểm định và đánh giá hoạt động Lầu năm góc năm 2003 ghi chú rằng khả năng hoạt động của B-2 trong năm 2003 vẫn chưa tương xứng, chủ yếu bởi việc bảo dưỡng các vật liệu tàng hình của nó. Bản báo cáo cũng lưu ý rằng các thiết bị điện tử tự vệ trên máy bay vẫn còn có một số thiếu sót khi đưa ra cảnh báo nguy cơ. Dù có những vấn đề đó, B-2 vẫn có thời gian hoạt động cao trong Chiến dịch Iraq Tự do, ném 583 quả bom JDAM trong cuộc chiến.[5]
B-2 trưng bày

B-2 Spirit trưng bày tại Bảo tàng Quốc gia của Không lực Hoa Kỳ
Vì chi phí, sự hiếm hoi và giá trị chiến đấu của nó, có lẽ không có bất kỳ một chiếc một chiếc B-2 nào sẽ được đưa ra trưng bày thường xuyên trong tương lai gần (hay bất kỳ thời điểm nào trước khi nó được cho ngừng phục vụ). Tuy nhiên, thỉnh thoảng chúng cũng được đem trưng bày trong một thời gian tại nhiều triển lãm hàng không, gồm cả cuộc triển lãm tại Căn cứ không quân Tinker, thành phố Midwest, OK vào tháng 6 năm 2005. Năm 2004 mẫu thử nghiệm tĩnh của chiếc B-2 đã được đưa trưng bày Bảo tàng Quốc gia Không quân Hoa Kỳ gần Dayton, Ohio. Chiếc máy bay mẫu đã được dùng để thí nghiệm kết cấu, và thí nghiệm phá huỷ. Đội phục hồi của bảo tàng đã mất hơn một năm để tái lắp khung máy bay, và có thể thấy được rõ ràng các miếng vá bên ngoài thân máy bay nơi các bộ phận kết cấu được tái ráp lại.
Bảo tàng Hàng không & Vũ trụ Nam Dakota nằm bên trong Căn cứ không quân Ellsworth trưng bày một mẫu theo tỷ lệ 1/2 của chiếc B-2 được chính bảo tàng chế tạo.

Một chiếc B-2 Spirit đã tham gia vào lễ kỷ niệm của Không quân ngày 14 tháng 10, 2006. Một bài báo trên CNN.com đã tưởng nhầm đây là chiếc F-117 Nighthawk.
Các đơn vị sử dụng B-2
Không lực Hoa Kỳ
Phi đội ném bom 509, Căn cứ Không quân Whiteman
Liên đội ném bom 13
Liên đội ném bom 393
Liên đội huấn luyện chiến đấu 394
Phi đội 53, Căn cứ Không quân Eglin
Phi đội Thử nghiệm và Đánh giá 72, Căn cứ Không quân Whiteman
Phi đội 57, Căn cứ Không quân Nellis
Liên đội vũ khí 325, Căn cứ Không quân Whiteman
Phi đội vũ khí 715 không hoạt động
Đặc điểm kỹ thuật (B-2A block 30)

phi hành đoàn = 2
chiều dài chính = 69 ft
chiều dài quy đổi = 20.9 m
sải cánh chính = 172 ft
sải cánh quy đổi = 52.12 m
chiều cao chính = 17 ft
chiều cao quy đổi = 5.1 m
diện tích chính = 5,000 ft²
diện tích quy đổi = 460 m²
trọng lượng rỗng chính = 158,000 lb
trọng lượng rỗng quy đổi = 71,700 kg
trọng lượng chất tải chính = 336,500 lb
trọng lượng chất tải quy đổi = 152,600 kg
trọng lượng cất cánh tối đa chính = 376,000 lb
trọng lượng cất cánh tối đa quy đổi = 171,000 kg
động cơ (phản lực) = General Electric F118-GE-100
kiểu phản lực = động cơ phản lực cánh quạt đẩy
số lượng động cơ = 4
lực đẩy chính = 17,300 lbf
lực đẩy quy đổi = 77 kN
tốc độ tối đa chính = 410 knots
tốc độ tối đa quy đổi = 475 mph, 764 km/h
tầm bay chính = 6,500 mi
tầm bay tối đa quy đổi = 5,600 nm, 10,400 km
trần bay chính = 50,000 ft
trần bay quy đổi = 15,000 m
climb rate main =
climb rate alt =
chất tải chính = 67.3 lb/ft²
chất tải quy đổi = 329 kg/m²
lực đẩy/trọng lượng = 0.205
vũ khí=
40,000 lb (18,000 kg) với giá đặt bom loại 500 lb (Mk82) (tổng số lượng chứa: 80 quả)
27,000 lb (12,000 kg) với giá đặt bom loại 750 lb CBU (tổng số lượng chứa: 36 quả)
16 Máy phóng quay (RLA) đặt các loại vũ khí 2000 lb (Mk84, JDAM-84, JDAM-102)
16 Máy phóng quay B61 hay vũ khí hạt nhân B83
Các thiết bị điện tử và phương tiện cải tiến về sau này cho phép B-2A mang JSOW và GBU-28.

TAJ MAHAL KỲ QUAN Ở ẤN ĐỘ



Taj Mahal -
kiệt tác kiến trúc của nhân loại
(XEM VIDEO CUỐI TRANG)
tka23
Được xếp vào một trong 7 kỳ quan thế giới đương đại, lăng mộ cuốn hút du khách nhờ sự lỗng lẫy và không gian mê hoặc như cổ tích.
Taj Mahal được xây dựng để tưởng nhớ người vợ quá cố của vua Shah Jehan.
Công trình kiến trúc nằm ở thành phố Agra bang Uttar Predesh, cách thủ đô New Delhi 200 km về phía nam. Agra vốn là thủ phủ của những hoàng đế Hồi giáo (Mughal) thống trị miền Bắc Ấn Độ từ thế kỷ 16 đến 19. Triều đại của Mughal thịnh vượng nhất vào các đời hoàng đế Akbar, Jehangir, và Shah Jehan.
Mahal Mumtaz và Shah Jehan kết hôn năm 1612. Trong 18 năm chung sống, họ có tới 14 mặt con. Người vợ yêu dù bận rộn với vai trò làm mẹ vẫn không quên cùng chồng đi chinh chiến, trở thành nhà cố vấn và hậu cần cần mẫn với Shah Jehan, khiến ông nặng lòng tình cảm.
Năm 1630, tại Burhanpur, Mahal đã qua đời ngay trên giường đẻ. Quá đau đớn trước sự mất mát, nhà vua lệnh cho xây lăng mộ đẹp và lãng mạn nhất trên trái đất.
Ngay năm 1630, kiến trúc sư Ahmad Lahori được vời tới thực hiện công việc xây dựng. Thợ xây, thợ thủ công, nhà điêu khắc và các chuyên gia thư pháp từ Ba Tư được triệu tập. Kiệt tác kiến trúc gồm 5 khu:
Darwaza (cổng chính), Bageecha (không gian vườn), Masjid (nhà thờ Hồi giáo), Naqqar Khana (nhà nghỉ) và Rauza (lăng Taj Mahal).
.
Phong cách thiết kế là sự tổ hợp của kiến trúc Ba Tư, Trung Á và Hồi giáo.
Điểm nổi bật nhất là sàn nhà bằng đá cẩm thạch chia ô bàn cờ đen và trắng, 4 tháp cao (khoảng 40 m) ở 4 góc và vòm tráng lệ ở trung tâm.
Trên lối đi có cổng tò vò được khắc những dòng kinh Cô ran, gây ấn tượng mạnh với du khách. Sự tinh xảo và lộng lẫy hiển hiện rõ ràng trong từng cột đá, cứ 3 cm vuông được chạm khắc bằng 50 viên đá quý
xin vào đây xem video

ĐỀN TAJ MAHAL

KỲ QUAN

NẤM LINH CHI- TÀI LIỆU SƯU TẤM


NẤM LINH CHI
tka23
Từ huyền thoại nấm Linh Chi thời cổ đại đến những khám phá khoa học mới…

Từ hàng ngàn năm qua, người Trung Hoa – những vị vua thuốc Bắc – đã vô cùng quý giá nấm Linh Chi (Lingzhi), Linh Chi thảo,… và nấm Linh Chi được xem là Hoàng đế huyền nhiệm trong các loài thảo dược (Miraculous King of Herbs) trong khoa thuốc Bắc Đông Phương.


Nó được xem là loại Dược Thảo Huyền Nhiệm (Magic Herbal Medicine) trong đời sống sức khỏe của con người.

Các vị vua và những nhà quý phái của Đông phương trong hàng ngàn năm qua tìm kiếm dược thảo Linh Chi để cuộc sống được GIA TĂNG KHỎE MẠNH, GIA TĂNG TRƯỜNG THỌ, và GIA TĂNG KHẢ NĂNG TỰ CHỮA LÀNH BỆNH HOẠN…


Từ lâu, những tính chất và công dụng quan trọng của Linh Chi đã được các sách Y học cổ của Trung Hoa nhấn mạnh đến như trong các cuốn sau đây:

- Sheng Nung Herbal Medicine (sách Y khoa dược thảo Sheng Nung)
- Outline of Herbal Medicine (Đại cương Y khoa dược thảo).
o0o


Tính chất thần diệu của Linh Chi được bao bọc bằng một lớp võ bí ẩn trong hàng ngàn năm qua, và từng nổi tiếng về công dụng tạo ra MỘT CUỘC SỐNG TRẺ TRUNG VÀ TRƯỜNG THỌ… thế nhưng chưa ai nghiên cứu kỹ một cách khoa học những tính chất này của LINH CHI…


May mắn thay trong vài năm qua, các nhà nghiên cứu Trung Hoa và ngoại quốc đã có những công trình nghiên cứu quan trọng (attentive research), đã thực hiện những phân tích hợp tác (cooperative analysis), thực hiện những thí nghiệm trong bệnh viện (clinical experiments) do các bệnh viện, trường đại học và hãng bào chế dược phòng ,… và nhờ thế, cuối cùng, những đặc tính trị liệu của Linh Chi mới đượckhám phá qua góc độ y học hiện đại. Những đặc tính đó là:

- Hemocathasis
- Detoxifies (thải độc chất ra khỏi cơ thể)
- Diuretic (lợi tiểu)
- Liver protector (tính chất bảo vệ gan),
- Intestine regulator (tính chất điều hòa ruột)
- Cardio tonic (bỗ tim)
- Blood pressure adjuster (điều chỉnh huyết áp)
- A cold tonic
- Anti-tussis
- Expectorant
- Transquilier
- Anti-tumor drug (dược tính chống ung bướu),…

Tại sao chúng ta cần uống Linh Chi

Hầu hết bệnh tật và những chứng bệnh kinh niên đều do sự mất quân bình của các chức năng cơ thể gây ra do tích lũy độc tố trong cơ thể.

Linh Chi giúp chúng ta khả năng “kiểm soát y khoa của cơ thể” (medical check-up) và phát hiện những bệnh tật đang tiềm ẩn trong cơ thể của chúng ta. Sau khi Linh Chi “khám bệnh và phát hiện bệnh” đang tiềm ẩn trong cơ thể của chúng ta rồi thì nó sẽ giúp thải những độc tố (remove toxins) ra khỏi cơ thể, tạo cho cơ thể trở thành vị “bác sĩ xuất sắc nhất” (best doctor) để có thể điều trị nhiều loại bệnh khác nhau bằng chính hệ thống miễn nhiễm tự nhiên trong cơ thể của chúng ta.

Những chức năng căn bản của Linh Chi là:

1. Lọc sạch máu huyết
2. Lọc và thải độc tố ra khỏi cơ thể
3. Gia tăng chức năng của thận
4. Bảo vệ gan
5. Tăng cường sức mạnh của quả tim
6. Giữ gìn cột sống
7. Phòng chống ung thư,…

Chức năng và các thành phần quan trọng của Linh Chi

- Polysaccharide dan Organic Germanium: Chất này giúp cải tiến khả năng tự chữa lành bệnh của cơ thể, và thiết lập một hệ thống miễn nhiễm mạnh. Chất này có khả năng phòng chống ung bướu, ngăn chận sự suy thoái của các bộ phận nội tạng, và tăng cường sinh lực cho các tế bào, gia tăng khí oxy cho hệ thống huyết quản, thải các tế bào chết và các độc chất,…

- Adenosine: Giúp khống chế việc hình thành những cục máu (blood clots), gia tăng việc luân lưu máu huyết, hạ thấp cholesterol và giảm mỡ trong máu, cải tiến chức năng cortex của tuyến adrenal nhằm duy trì sự quân bình của endocrine, điều tiết metabolism và làm cho chúng ta cảm thấy trẻ trung hơn, tràn đầy sinh lực và giúp duy trì khả năng quân bình pH của khí huyết.

- Triterpenoids: Tăng cường hệ thống tiêu hóa, phòng chống các bệnh dị ứng, giảm cholesterol, và gia tăng sinh lực của các nhân tế bào cơ thể,…

- Chất Ganoderic: Trẻ trung hóa các cơ của cơ thể, duy trì chức năng của cơ thể, gìn giữ sự tươi trẻ, khắc phục các căn bệnh về da và làm làn da của chúng ta đẹp hơn,… Ngoài ra, chất này còn có công dụng chữa bệnh ngoài da như trị thương, ung thư miệng, và ngăn chận chảy máu,…

Linh Chi hoạt động thế nào?

Công dụng của Linh Chi trên cơ thể của chúng ta được chia ra làm 5 giai đoạn:

- Giai đoạn 1: (1-30 ngày)

Linh Chi giúp phát hiện những căn bệnh và độc tố tiềm ẩn trong cơ thể và tiến hành việc điều hòa các chức năng của cơ thể. Trong thời gian này, cơ thể sẽ cho thấy những triệu chứng mà chúng ta biết đến như là hiện tượng “phản ứng bệnh tật” (ailment reflection). Những phản ứng này không phải là “phản ứng phụ” (side effect), nhưng những phản ứng này giúp phân biệt khu vực bị đau trên cơ thể. Đây là tính chất tìm kiếm và phát hiện (scanning effect) bệnh của Linh Chi.

-
Giai đoạn 2: Lọc và sa thải chất độc (1 đến 30 tuần)

Linh Chi được biết đến như là “Vua sa thải chất độc” trong cơ thể vì khả năng tuyệt vời của nó trong việc sa thải các chất uric acid dư thừa, lactic acid dư thừa, cholesterol dư thừa, lớp mỡ, tissue chết, và độc tố tích lũy trong cơ thể,… ra khỏi cơ thể. Độc tố được loại thải ra khỏi thận, gan hay những nội tạng khác qua hệ thống tuần hoàn như tiểu, mồ hôi,…

- Giai đoạn 3: Điều chỉnh… (1-12 tháng)

Trong tiến trình hồi phục này, chúng ta có thể thấy những phản ứng của cơ thể. Đừng lo lắng. Đây là giai đoạn cơ thể tự trị liệu. Nếu phản ứng quá mạnh, thì giảm liều lượng xuống mà thôi.

- Giai đoạn 4: Xây dựng và phục hồi

Linh Chi sẽ tiếp tục điều trị những bộ phận cơ thể bị yếu, bệnh và gia tăng hệ thống miễn nhiễm giúp hệ thống này gia tăng tính đề kháng trước bệnh tật. Linh Chi cũng cung cấp cho cơ thể những yếu tố căn bản và sinh tố cho việc phục hồi nhanh chóng của cơ thể.

- Giai đoạn 5: Trẻ trung hóa
Mục tiêu tối hậu của uống Linh Chi là nhằm duy trì các chức năng của cơ thể ở mức độ tối thượng của nó cũng như mang lại sự tươi trẻ của cơ thể chúng ta.

Những nguyên tắc Y khoa của Linh Chi

Theo những thử nghiệm y viện của bác sĩ Shigeru Yuki, thì những nguyên do mà Linh Chi trở thành một dược thảo hiệu quả vì những công dụng căn bản như sau:

1. Hạ cholesterol trong máu và số lượng mỡ dư thừa

2. Giảm mức đường trong máu và vãn hồi các công dụng của pancreas.

CÁC SẢN PHẨM TỪ TINH CHẤT CỦA LINH CHI


Qua bài đọc nghiên cứu về những khám phá hiện đại của y khoa đối với tính chất trị bệnh, khả năng tăng cường sinh lực, và khả năng mang lại tuổi trẻ, sự thanh xuân cho cơ thể, hãng Gano Excel hiện đang có hệ thống phân phối tại khoảng 33 quốc gia trên thế giới từ Malaysia, Aán Độ, Miến Điện, Phi Luật Tân, Singapore, Bangladesh, Brunei, Thái Lan, Hồng Kông, Indonesia ở Á Châu, và Uùc Châu, cũng như Gia Nã Đại, Mỹ (thuộc Mỹ Châu).
y dược

BIỂU TÌNH DƯỚI MƯA Ở SANJOSE






New Page 4




HUY HIỆU VIỆT NAM CỘNG HOÀ

HUY HIỆU VIÊT NAM CỘNG HOÀ

Thứ Năm, 8 tháng 5, 2008

THUYỀN NHÂN BOAT PEOPLE

html>





New Page 5









NGƯỜI VIỆT RA ĐI TRƯỚC VÀ SAU 75

html>





New Page 5








THUỶ HỬ TOÀN BÔ- 26 VIDEO

THUỶ HỬ TOÀN BỘ

BẢY KY QUAN THẾ GIỜI CỔ

BẢY KỲ QUAN THẾ GIỚI CỔ

NHỮNG NGƯỜI CHẾT TRẬN HÔM QUA

NHỮNG NGƯỜI CHẾT TRÂN HÔM QUA

Con Chuột Máy Tính







New Page 1





CHUỘT MÁY TÍNH


tka23




     




Đến
cuối năm 2008,
CHU

ỘT MÁY TÍNH tròn 40 tuổi. Càng “già” chuột càng
đẹp, càng tiện ích hơn. Càng ngày “công
nghệ chuột” được

cải thiện về chất lượng
và tính năng như: nhẹ, đẹp, rẻ, hình dáng
nhỏ gọn vừa lòng bàn tay, có loại đặc
biệt cho người thuận tay trái, độc đáo
theo sở thích và thời trang, nhạy hơn, chính xác hơn.




Cha đẻ
của chuột


    Sau 2 năm nghiên
cứu, chuột máy tính chào đời vào một ngày
cuối năm 1968. Nhà phát minh người Mỹ,
Tiến sĩ Douglas Engelbart nhận Giấy Chứng
Nhận Bằng Sáng Chế số: 3.541.541, cấp ngày
17.11.1970, ghi rõ tên đầu tiên của chuột là
“bộ định vị x-y”.




1 - 12 of 17




    
Douglas Engelbart chào đời năm 1925, tại bang Oregon,
Mỹ.Năm 1942, ông theo học ngành kỹ sư điện
tử tại trường đại học bang Oregon, sau
hai năm gián đoạn để gia nhập quân đội,
ông tốt nghiệp loại xuất sắc vào năm
1948.Ra trường, ông làm việc tại phòng thí
nghiệm NACA Ames, tiền thân của viện NASA ngày nay.
Chính từ đây, ông bắt đầu hình thành khái
niệm “phát triển ý tưởng nhân loại”.




 Ông muốn  làm sao cho
mọi người có cơ hội để được
nâng cao và phát huy khả năng của mình, để có
thể giải quyết được những 
phức tạp trong đời sống, vừa đạt
tới sự hiểu biết đủ để đáp
ứng cả những nhu cầu rất riêng tư



   .Ông đã đơn
giản hoá cách vận dụng máy vi tính, biến nó
từ một loại “siêu máy móc”, chỉ những nhà
khoa học cao siêu mới sử dụng được,
trở thành một công cụ gần gũi với
tất cả mọi người!




   
Năm 1964, “con chuột” đầu tiên ra đời
chỉ với mục đích phục vụ những người
thiết kế đồ hoạ trên máy tính.Năm 1968,
Douglas Engelbart đã có một buổi thuyết trình trước
công chúng dài 90 phút về hệ thống máy tính
“mạng lưới” (net-work) tại trung tâm nghiên
cứu mở rộng đại học Stanford, và đây
là lần đầu tiên “các đứa con” của ông
đã ra mắt mọi người: “con chuột” và
hệ điều hành Windows.




Năm 1970, Douglas Engelbart nhận
được bằng sáng chế cho mẫu “con
chuột”có vỏ hộp bằng gỗ gắn hai bánh
xe nhỏ bằng kim loại  nối với máy tính
bằng một đoạn dây. Ông miêu tả nó như
một sáng chế mang tính ứng dụng cao, một
“vật chỉ thị vị trí trên màn hình vi tính”, nó
cho biết bạn “đang ở đâu”! Douglas Engelbart
bật mí: tôi đặt tên nó là “con chuột” ví nó
có một “cái đuôi” dài thò lò ra đấy thôi.




     
Tiến sĩ Douglas Engelbart đã được vinh
dự nhận được giải thưởng Lemeson
– MIT năm 1997 cùng số tiền thưởng 500.000USD.
Đây là giải thưởng lớn nhất dành cho các
phát minh mang tính đổi mới trên toàn thế
giới.Năm 1998, tên của ông được
đưa vào toà nhà kỷ niệm những nhà phát minh
quốc gia Hoa Kỳ.Năm 2000, Douglas Engelbart được
Tổng thống Mỹ lúc đó là Bill Clinton tặng thưởng
Huy chương Công nghệ quốc gia, huy chương cao
nhất trong lĩnh vực công nghệ.




Chuột không
ngừng tiến hóa


      Chuột được
Tiến sĩ Douglas Engelbart và các cộng sự thai nghén
năm 1963. Mẫu đầu tiên của nó được
tạo ra để sử dụng với giao diện người
dùng đồ hoạ (GUI, graphical user interface). Lúc đó,
chuột là một khối gỗ vuông với một nút
bấm màu đỏ và hai bánh xe kim loại đựơc
bố trí vuông góc với nhau.




     Ngày 9.12.1968,
chuột chính thức chào đời khi được
đưa ra trình diễn trong một buổi giới
thiệu kéo dài 90 phút trước khoảng một ngàn
chuyên gia máy tính tại một hội nghị tổ
chức ở

California


(Mỹ). Tiến sĩ Douglas Engelbart khiến các đồng
nghiệp của ông phải kinh ngạc khi dùng chuột
để điều khiển con trỏ trên màn hình
từ khoảng cách trên 40m.




      Chuột còn
có một người anh em sinh đôi là bàn phím có 5 phím
bấm. Ý tưởng của Engelbart là để tương
tác với màn hình máy tính, người dùng chỉ
cần một tay cầm chuột, còn tay kia cầm bàn phím
số, và sẽ chẳng cần đến cái bàn phím như
hiện nay. Thế nhưng qua gần 4 thập kỷ thì
chỉ một mình chuột trở thành một trang
bị tiêu chuẩn của máy tính cá nhân, việc mà ông
Engelbart cho là “điều bất ngờ ngọt ngào”.
Trong trong khi đó thì cái bàn phím 5 phím bấm chẳng
biết đi về nơi đâu. Có lẽ vì nếu
muốn thay thế bàn phím đánh chữ bằng 5 phím
bấm đó, người sử dụng máy tính buộc
phải nhớ đến 512 kiểu đánh phối
hợp. Ngược lại để sử dụng
chuột, người ta chỉ cần cầm nó di
chuyển vòng vòng, kéo tới kéo lui trên miếng lót.




     Ban đầu
để sử dụng đựơc chuột
“thuỷ tổ” phải mất vài… tháng để làm
quen. Đến năm 1973,
Bill English, một thành viên trong nhóm nghiên
cứu của Douglas Engelbart, thực hiện những
cải tiến lớn đầu tiên. Bill English
“giải phẫu thẩm mỹ” chuột bằng
việc đặt bên dưới chuột một hòn bi
lớn bằng thép có khả năng ghi nhận các
chuyển động của tay để thay thế cho
hai bánh xe kim loại bên trong như thiết kế cũ,
lại gắn thêm 2 nút bấm thành 3 nút.
Chuột bi này của Bill English được Xerox
PARC
(Trung tâm Nghiên cứu Xerox tại Palo Alto) tung ra
cùng với chiếc máy tính đầu tiên sử
dụng GUI.




    
Ý tưởng chuột bi của Bill English được
tiếp tục phát triển qua những tiến hoá:
từ 3 nút còn lại 2 nút, rồi thêm bánh lăn…
Thế rồi đến năm 1981, Richard Lyon của Xerox
và Steve Kirsh của tập đoàn Mouse Systems cùng lúc phát
minh mẫu chuột quang đầu tiên, nhận dạng
chuyển động bằng vi cảm biến ánh sáng
đặt dưới thân chuột, giải quyết
chuyện bi bị bám bụi.



     Năm 1983, Apple
tung ra mẫu máy tính cá nhân thương mại đầu
tiên là Apple Lisa được trang bị GUI và chuột.
Apple Lisa không thành công, nhưng chuột Apple vẫn
được giữ lại để dùng với máy
Apple Macintosh sau đó. Trong những năm cuối thập
niên 20, người dùng máy tính quen liên tưởng
mẫu chuột có phím cuộn kèm với cái tên Microsoft,
nhưng thực ra Genius đã đi trước Microsoft
một năm, với mẫu chuột Genius EasyScroll
được tung ra thị trường năm 1995. Đến
năm 2004, Logitech tung ra mẫu chuột laser đầu tiên,
thay thế toàn bộ đèn LED bên trong chuột quang.




Trong quá trình “tiến hoá”,
chuột cũng được cải thiện về
chất lượng: nhẹ, đẹp, rẻ; hình dáng
nhỏ gọn vừa lòng bàn tay, thậm chí có loại
đặc biệt cho người thuận tay trái,
hoặc độc đáo theo sở thích và thời trang.
Về tính năng chuột cũng nhạy hơn, chính xác
hơn, thậm chí có chuột 2 trỏ. Về sự
thuận lợi, từ chuột có dây, chuột rút dây
cho đến chuột không dây, chuột sóng radio; từ
chuột dễ bị bám bụi và “chết” nếu không
biết làm vệ sinh bi đến chuột quang, chuột
laser…




     Ngày nay chẳng còn
ai gọi bằng cái tên cúng cơm đầy tính công
nghệ “bộ định vị x-y”, mà chỉ
gọi bằng cái nickname chuột. Cho dù một số
mẫu chuột mới sử dụng công nghệ không dây,
không còn “đuôi” nhưng chuột vẫn là …
chuột. Dẫu vậy, các nhà phát minh vẫn tiếp
tục tìm kiếm những kiểu áo mới, và cả
gắn cho chuột thêm những chức năng hiện
đại khác.

Lòng biết ơn.




Tiến sĩ Douglas Engelbart luôn
được xem là người “đi trước
thời đại”. Thoạt tiên, khi ông đưa ra
những ý tưởng…   “hoang đường”
nhiều người cười ông, nhưng về sau khi
chính ông hoặc người khác biến chúng thành
hiện thực thì mọi người lại mang ơn
ông!




    Douglas Engelbart từng
nói: “thật là tuyệt vời khi có thể thôi thúc
được các người khác miệt mài theo đuổi,
phấn đấu để đạt được
ước mơ của mình!”. Phát minh ra “con
chuột” vi tính và hệ điều hành Windows là
những điều tuyệt vời mà ông đã làm
để thực hiện câu nói này.




    Khi Douglas Engelbart hình
dung “con người đang ngồi trước máy vi tính,
vô số… vô số những thông tin hiển thị, lướt
rất nhanh và ngày càng nhanh hơn cứ như “bay bay”
trong không gian màn hình, sẽ giúp người ta trình bày và
thiết lập các ý tưởng của mình một cách
linh hoạt, với tốc độ… “không thể nào
tưởng tượng được”!




    Năm Con Chuột, khi
bạn đang bay lượn lướt web hay đang làm
việc trên máy vi tính qua những thao tác nhẹ nhàng
nhấp chuột, xin nhớ đến Tiến sĩ
Douglas Engelbart với tất cả lòng biết ơn.




 


 Giuse
Nguyễn Hữu An








NỌC ĐỘC CỦA RẮN (O HÌNH)

NGÀY XƯA RẮN ĐỘC CẮN KỂ NHƯ THẦY CHẠY tka23

***Căn cứ vào những triệu chứng khi bị rắn độc cắn người ta chia nọc rắn ra làm 2 loại độc tính :
- một loại tác động lên tổ chức thần kinh gọi là neurotoxin
- một loại tác động trên máu và thành mạch máu nhỏ (vi huyết quản ) như là hemolysin ,hemorragine .***Độ độc +
Một số cách chữa trị trong dân gian :Trong những loại rắn độc kể trên ,
loài rắn cạp nia (Bungarus kandius ) thuộc loại độc nhất , chỉ cần 1,5mg nọc là đủ làm chết người cân năng 50-60kg ;
loại hổ mang Naja- naja cần khoảng 20mg
nọc loài cạp nong Bungarus fasciatus cần chừng 30-50mg .-Khi bị rắn cạp nia cắn thường lúc mới không thấy đau chỉ tê tê , do đó nhiều người không chú ý mà bị chết .Chỗ bị cắn không sưng ,không màu,nhưng thịt co giật như tiêm nhiều striknin , nhiễm độc tới đâu thì thịt co giật tới đó , vết cắn mềm như thường ,đặt biệt dù có buột garô cũng không tím ,chỉ hơi đỏ thôi,
gây chảy máu ( đau bụng ) rồi ngạt thở mà chết , máu không đông , chảy ở hậu môn và ở âm đạo nếu là phụ nữ .
Kinh nghiệm nhân dân hể thấy đau bụng là bắt đầu khó cứu sống .- Rắn hổ mang cắn cũng dể chết .
Tê liệt trung tâm hô hấp .Hiện tượng nhiễm độc (kurare ) ở những bản vận động (plaque terminale ) của những dây thần kinh , đặt biệt dây thần kinh của cơ hoành , giãn những mạch nội tạng (vaisseaux splanchniques) hiện tượng co tiểu động mạch và mao mạch .----Khi bị rắn cắn ,ngoài việc mở rộng vết thương và trên vết thương độ 1-2cm để nặng cho ra thật nhiều máu và dát để rút máu cho tới khi hết hay đỡ đau nhức ,người ta thường dùng nhiều loại thuốc cho uống và đắp ; thường cho uống rượu hội ,có thể lấy lá bồ cu vẽ ,tỏi ,lá ớt giã nát lấy nước uống bã đắp lên vết cắn ...sau đó nhanh chóng đua nan nhan đến bệnh viện gần nhất .HẾTthương thức

Thứ Tư, 7 tháng 5, 2008

THÀNH PHỐ BUỒN- NHƯ QUỲNH - TRƯỜNG VŨ







New Page 5








BÁCH KHOA KIM SƠN

BÁCH KHOA KIM SƠN

NGUYỆT SAN HỒN QUÊ

NGUYỆT SAN HỒN QUÊ

BÁCH KHOA TOÀN THƯ- TIẾNG VIỆT

BÁCH KHOA TOÀN THƯ TIẾNG VIỆT

THE LONGEST DAY







New Page 5








RỪNG LÁ THẤP- NHẬT TRƯỜNG- VIDEO







New Page 5








THIÊN THẦN TRONG BÓNG TỐI- LÊ .T .CÔNG NHÂN

Code:







New Page 5








HÀI KỊCH HẢI NGOẠI- VIDEO

HÀI KỊCH HẢI NGOẠI

NHẠC VÀNG BẤT TỬ - ONLINE

NHẠC VÀNG -ONLINE

NỮ KHOA HỌC GIA DƯƠNG NGUYỆT ÁNH- VIDEO

Code:







New Page 5








WEB SITE TRƯỜNG VBQGVN(.tvbqgvn.org)

TRƯỜNG VÕ BỊ QUỐC GIA VIỆT NAM

GIA ĐÌNH MŨ ĐỎ

GIA ĐÌNH MŨ ĐỎ

SẦU VIỄN XỨ- VIDEO- GIAO LINH







New Page 5








CHUYỆN MỘT ĐÊM KHUYA - GIAO LINH- VIDEO







New Page 5








THUỶ QUÂN LỤC CHIẾN CHIẾM CỔ THÀNH QUẢNG TRỊ







New Page 5








QUẢNG TRỊ ĐÔNG HÀ 1972- VIDEO







New Page 5








MÙA HE ĐỎ LỬA AN LÔC







New Page 5








NHẠC NGỌC LAN

NHẠC NGỌC LAN

GIỌT BUỒN KHÔNG TÊN - Y PHỤNG - VIDEO







New Page 5









ĐÀN CHIM THA PHƯƠNG- FLASH






New Page 4




K23 BẮC CALI DU HÀNH






New Page 4




HÁT GIỮA QUÊ NGƯỜI - FLASH MUSIC






New Page 4




CHÀO CỜ ĐẦU NĂM Ở SANJOSE






New Page 4




CHÀO CỜ TRƯỚC CỔNG TRƯỜNG VÕ BỊ







New Page 5








HÙNG CA - QUÂN NHẠC

HÙNG CA - QUÂN NHẠC

CHIỀU HOÀNG LIÊN SƠN

CHIỀU HOÀNG LIÊN SƠN

HÌNH ẢNH BIỂU TÌNH 2/3 / 2008 SANJOSE

BIỂU TÌNH Ở SANJOSE

AI LÊN XỨ HOA ĐÀO- HA THANH VIDEO

AI LÊN XỨ HOA ĐÀO

CHUYỆN BUỒN THÁNG TƯ- THƠ- HOÀNG OANH







New Page 5









CHUYỆN CHIẾC CẦU ĐÃ GÃY







New Page 5








KHÔNG QUÊN ĐỒNG HƯƠNG FLASH






New Page 4





TRẠI KIÊN GIAM- AUDIO - NG CHÍ THIỆP

TRẠI KIÊN GIAM