Thứ Hai, 12 tháng 5, 2008
132 RƯỢU CẦN TÂY NGUYÊN (TÀI LIỆU)
RƯỢU CẦN TÂY NGUYÊN
tka23
đã có đôi lần ghé qua các buôn làng Tây Nguyên, chắc
đã được biết đến hai tiếng "rượu cần".
Rượu cần (T-rơ-nơm) là thức uống truyền thống độc
đáo của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, tuy từng
nơi có khác nhau ít nhiều về cách chế biến và mục đ
ích sử dụng. Phần lớn các dân tộc ở vùng cao khắp
châu Á cũng có rượu cần.
Cái ú hay ché (giăng) được các dân tộc thiểu số
dùng làm rượu cần và được xem là vật gia bảo có
giá trị cao ngàng hàng với bộ đồng la (ching), vòng đeo
cổ (nhoòng)...
Ngoài ý nghĩa là vật cúng, vật dẫn lễ, rượu cần
còn được xem là món giải khát rất bổ dưỡng. Mọi
lứa tuổi, mọi giới, kể cả người ốm đều dùng đ
ược.
ĐẶC TÍNH CỦA RƯỢU CẦN
- Là thức uống có rượu nhưng không phải cất.
- Là sản phẩm lên men rượu nhưng không có hơi gạ
- Màu đỏ như hổ phách, trong suốt.
- Mùi thơm dịu đặc trưng không có mùi cồn.
- Vị ngọt, không cay, không đắng.
CÁCH CHẾ BIẾN RƯỢU CẦN
- Ché làm rượu phải sạch, tráng nước sôi, phơi khô
một ngày nắng.
- Gạo, bắp mới giã, nấu thành cơm vừa chín, không
khê, nhão.
- Trộn men vào cơm còn ấm, bọc lá chuối sạch và ủ
một đêm, giữ nhiệt bằng trấu (Men được sản xuất ba
('ng cách giã nhỏ vỏ cây rừng với gạo phơi khô trong
mát, cất vào gùi dùng dần).
- Lựa lá trấu lớn lót bên trong đáy ché, dày khoảng
vài phân, sau đó để cơm ủ men lên trên, đến cách
miệng ché khoảng 10 phân thì ủ trấu dày.
- Nhồi tro với nước để làm nắp đậy cho ché rượu.
Trát kín mép ché và trên nắp.
- Sau khoảng 2 tuần thì rượu chín, có mùi thơm nhẹ,
rượu càng lâu càng ngon, vị ngọt đậm, hương thơm
nhiều, màu đỏ sậm như màu mận chín.
CÁCH THƯỞNG THỨC RƯỢU CẦN
thường, rượu cần được dùng để gây khôngkhí
đầm ấm quanh bếp lửa, khích lệ thêm tình gần
gũi đoàn kết.
Chủ tiệc rượu là người có ý nguyện cúng rượu để
cầu an (hoặc là lành bệnh, mừng sức khỏe, mừng
được mùa, tiệc cưới hỏi, chuộc lỗi...). tùy số
khách mời mà chủ rượu khui ché lớn (tơng-giâu), ché
vừa (giăng) hay ché nhỏ (giơ-rô).
Người uống rượu đứng dậy bắt tay (cúp-tê), đặc
biệt bàn tay trái của họ bắt vào cổ tay phải trước
khi đưa bàn tay phải bắt tay nhau, sau đó chủ, khách
ngồi quanh sàn rượu.
Ché rượu lớn thường được cột vào một chiếc cọc
để khỏi đổ ngã.
Chủ tiệc rượu khui nắp ú, rót nước lã vào thật đ
ầy, dùng cần rượu cắm xuống sát đáy rồi uống
thử (cần rượu của các dân tộc thuộc ngữ hê. Môn-
Khơ-me thường là ống le (rlê), các dân tộc thuộc ngữ
hê. Malayo-Polynesien (Churu, Raglai) dùng dây mây dùi lỗ
dọc và lỗ đáy).
Tùy cách uống rượu mà chủ tiệc rượu quy định
lượng rượu cho từng khách uống tính bằng phao hay rót
bằng tộ
Đến lượt mình, người uống phải uống hết lượng
rượu quy định trong một hơi, rồi mới được trao cần
cho người kế tiếp. Thứ tự xoay vòng theo chiều kim đ
ồng hồ.
Trong khi uống, mọi người hút thuốc lá của chủ tiệc
rượu. Người già thường hát trường ca nói về lịch
sử, nguồn gốc địa danh, điển tích của dân tộc mình.
Đôi khi hát từng bài (đớt-xchơ), hát về nỗi nghèo
khổ (đơxareng) hoặc giải thích các luật tục (nri) của
buôn làng, dòng họ cho con cháu nghe (hay giới thiệu với
khách rượu).
Thỉnh thoảng, tiệc rượu có thức ăn thường là hạt
ngô, thịt ướp khô, thịt luộc hoặc nướng chấm muối
ớt. Tiệc lớn có thể đánh chiêng, thổi kèn ống, nhả
y múa nhẹ nhàng.
Thường khi rượu lạt, khách ngà say, ngọn lửa tàn
dần
thì tiệc tan, ai về nhà nấy. Ché rượu vẫn cột ở
cọc một đôi ngày để làm dấu tích cho một tiệc vui đã
quạ
sưu tầm